Cách để Tính Giá trị Trái phiếu

Đồng tác giả: Michael R. Lewis

Trong bài viết này:Phân tích khái niệm cơ bản về trái phiếuSử dụng công thức giá trị hiện tại6 Tham khảo

Trái phiếu là chứng khoán nợ được trả với mức lãi suất cố định cho đến khi đáo hạn. Khi một trái phiếu đáo hạn, khoản tiền gốc của trái phiếu cũng sẽ được trả lại cho người giữ trái phiếu. Nhiều nhà đầu tư tính giá trị hiện tại của trái phiếu. Giá trị hiện tại (tức là giá trị chiết khấu của dòng thu nhập tương lai) được dùng như một trong những yếu tố để hiểu rõ hơn khi nhà đầu tư cần cân nhắc trước khi mua khoản đầu tư. Giá trị hiện tại của trái phiếu dựa trên hai phép tính. Đó là giá trị hiện tại của số tiền lãi được trả và giá trị hiện tại của số tiền gốc nhận lại khi đến hạn

Phần 1
Phân tích khái niệm cơ bản về trái phiếu

  1. 1
    Tim hiểu cách hoạt động của trái phiếu, và tại sao trái phiếu được phát hành. Trái phiếu là một công cụ nợ. Các tổ chức phát hành trái phiếu nhằm huy động vốn với mục đích cụ thể. Chính phủ phát hành trái phiếu để huy động vốn cho các dự án công ích như đường xá hoặc cầu cống. Các công ty phát hành trái phiếu nhằm huy động tiền để mở rộng kinh doanh của họ.[1]
    • Tất cả các đặc tính của một trái phiếu sẽ được liệt kê trong bản giao kèo trái phiếu. Trái phiếu thường được phát hành theo bội số 1.000 USD. Ví dụ, giả sử IBM phát hành một trái phiếu mệnh giá 1.000.000 USD trong 10 năm với mức lãi suất là 6%. Trái phiếu trả lãi nửa năm một lần.
    • 1.000.000 USD là số tiền ghi trên trái phiếu hoặc số tiền gốc của trái phiếu. Đó là số tiền người phát hành trái phiếu phải trả khi đến hạn.
    • IBM (công ty phát hành) phải hoàn trả 1.000.000 USD cho nhà đầu tư khi hết 10 năm. Trái phiếu đáo hạn trong 10 năm.
    • Trái phiếu có mức lãi suất phải trải là (1.000.000 USD nhân với 6%), tức là 60.000 USD mỗi năm. Do trái phiếu trả lãi nửa năm một lần nên người phát hành trái phiếu phải thực hiện hai lần trả lãi, mỗi lần là 30.000 USD.
  2. 2
    Xem xét cách nhà đầu tư có thể kiếm tiền từ việc sở hữu trái phiếu. Như ví dụ ở trên, hãy nhớ rằng hàng chục nhà đầu tư có thể mua một phần của trái phiếu mệnh giá 1.000.000 USD được phát hành. Mỗi nhà đầu tư sẽ được trả lãi suất hai lần một năm. Nhà đầu tư cũng sẽ nhận lại được khoản đầu tư ban đầu (số tiền gốc hoặc số tiền ghi trên trái phiếu) khi trái phiếu đáo hạn.[2]
    • Nhiều người về hưu thường mua trái phiếu vì khoản thu nhập có thể ước tính được từ các khoản tiền lãi.
    • Tất cả trái phiếu được đánh giá dựa trên khả năng thanh toán lãi suất và trả nợ gốc một cách kịp thời. Trái phiếu có xếp hạng cao hơn được xem là khoản đầu tư an toàn hơn nhờ tài sản thế chấp đảm bảo cho trái phiếu và/hoặc năng lực tài chính của tổ chức phát hành.
    • Tất cả mọi thứ đều công bằng, nếu trái phiếu được đánh giá thấp hơn thì thường sẽ được trả lãi suất cao hơn do những trái phiếu này được mặc định là có độ rủi ro cao hơn.
    • Giả sử IBM và Tập đoàn Acme đều phát hành trái phiếu trong vòng 10 năm. IBM có xếp hạng tín dụng cao và đưa ra mức lãi suất là 6%. Nếu Acme có đánh giá thấp hơn, công ty này sẽ phải đưa ra mức lãi suất cao hơn 6% để thu hút các nhà đầu tư.
  3. 3
    Xem qua giá trị hiện tại. Để tính toán giá trị của trái phiếu tại bất kỳ thời điểm nào, bạn nên cộng giá trị hiện tại của số tiền lãi được trả với giá trị hiện tại của khoản tiền gốc mà bạn nhận được khi đến hạn.[3]
    • Giá trị hiện tại sẽ điều chỉnh giá trị của khoản thanh toán trong tương lai theo giá trị đồng đô la ở thời điểm hiện tại. Ví dụ, bạn sẽ nhận được 100 USD trong 5 năm. Để xác định khoản thanh toán 100 USD này có giá trị bao nhiêu trong thời điểm hiện tại, bạn sẽ tính giá trị hiện tại của 100 USD.
    • Số tiền được chiết khấu theo tỷ suất lợi tức trong kỳ. Tỷ suất lợi tức này thường được gọi là tỷ suất chiết khấu.
    • Một nhà đầu tư có thể chọn tỷ lệ chiết khấu theo một số phương pháp khác nhau. Tỷ suất chiết khấu có thể là ước tính của bạn về tỷ lệ lạm phát trong suốt thời gian còn lại của trái phiếu. Tỷ suất chiết khấu cũng có thể là tỷ lệ lợi tức kỳ vọng tối thiểu. Mức kỳ vọng tối thiểu dựa trên mức xếp hạng tín nhiệm của trái phiếu và mức lãi suất của trái phiếu có chất lượng tương tự.
    • Giả sử bạn xác định mức tỷ lệ chiết khấu là 4% cho khoản thanh toán 100 USD trong 5 năm. Tỷ lệ chiết khấu được sử dụng để chiết khấu (giảm) giá trị thanh toán trong tương lai của bạn thành giá trị USD của hiện tại. Trong trường hợp này, bạn đang tính toán giá trị hiện tại của một tổng số tiền.
    • Bạn có thể tìm bảng giá trị hiện tại trên Internet, hoặc chỉ cần dùng công cụ tính giá trị hiện tại trực tuyến. Nếu sử dụng bảng, bạn sẽ xác định được hệ số giá trị hiện tại với mức chiết khấu 4% trong 5 năm. Hệ số đó là 0,822. Giá trị hiện tại của 100 USD là (100 USD X 0.822 = 82,20 USD).
    • Giá trị hiện tại của trái phiếu là (giá trị hiện tại của tất cả các khoản lãi) + (giá trị hiện tại của khoản tiền gốc được trả lại khi đến hạn).

Phần 2
Sử dụng công thức giá trị hiện tại

  1. 1
    Sử dụng khái niệm về dòng niên kim để tính giá trị của khoản lãi được trả. Một dòng niên kim là một khoản tiền cụ thể trả cho nhà đầu tư trong một khoảng thời gian nhất định. Các khoản thanh toán lãi cho trái phiếu của bạn được coi là một loại dòng niên kim.[4]
    • Để tính giá trị hiện tại của khoản lãi được trả, bạn cần tính giá trị của một loạt các khoản thanh toán bằng nhau trong mỗi năm theo chu kỳ. Ví dụ, một trái phiếu trị giá 1.000 USD có thời hạn là 10 năm với mức lãi suất là 10% mỗi năm, bạn sẽ kiếm được một khoản cố định là 100 USD/năm trong 10 năm.
    • Công thức tính giá trị hiện tại đòi hỏi bạn phải tách riêng các khoản tiền lãi hàng năm thành các khoản nhỏ hơn mà bạn nhận được trong năm. Ví dụ, nếu trái phiếu có giá trị 1.000 USD được trả lãi hai lần một năm, bạn sẽ có hai khoản thanh toán với 50 USD/lần thanh toán trong tính toán giá trị hiện tại của bạn.
    • Bất kỳ khoản tiền nào được thanh toán càng sớm thì chúng càng có giá trị. Khái niệm này đôi khi được gọi là "giá trị thời gian của tiền bạc", 1 USD nhận được vào ngày nay sẽ có giá trị lớn hơn 1 USD nhận được vào ngày mai bởi vì trong thời gian giữ 1 USD bạn có thể đem số tiền này đầu tư (hoặc đơn giản là chi tiêu) và để thu lợi nhuận. Theo logic đó, nếu bạn nhận được 50 USD vào tháng 6 và 50 USD vào tháng 12, thì sẽ có giá trị hơn việc nhận toàn bộ 100 USD tháng 12. Điều này là do bạn có cơ hội sử dụng số tiền 50 USD trước mà không cần đợi đến cuối năm.
  2. 2
    Áp dụng giá trị hiện tại của công thức dòng niên kim (PVA) vào khoản thanh toán lãi. Công thức là . Các biến trong công thức cần có là số tiền lãi thu được, tỷ lệ chiết khấu (hoặc tỷ lệ hoàn vốn yêu cầu) và số năm còn lại cho đến khi đáo hạn.[5]
    • Giả sử một trái phiếu có mệnh giá là 1.000 USD và trái tức là 6% thì số tiền lãi hàng năm là 60 USD.
    • Chia số tiền lãi hàng năm cho số lần trả lãi mỗi năm. Kết quả này được ký hiệu là I, số tiền lãi được trả theo kỳ. Ví dụ, nếu trái phiếu được trả lãi nửa năm một lần, I = 30 USD/kỳ. Mỗi kỳ là 6 tháng.
    • Xác định tỷ lệ chiết khấu. Chia tỷ lệ chiết khấu đòi hỏi cho số kỳ trong mỗi năm để tính tỷ suất lợi nhuận đòi hỏi cho mỗi kỳ, k. Ví dụ, nếu bạn yêu cầu tỷ suất lợi nhuận hàng năm là 5% mỗi trái phiếu, trả lãi hai lần một năm, k = (5% / 2) = 2,5%.
    • Tính số kỳ lãi được trả trong suốt vòng đời trái phiếu, gọi là biến số n. Lấy số năm đến khi đáo hạn nhân với số lần trả lãi mỗi năm. Ví dụ, giả sử trái phiếu đáo hạn trong 10 năm và tiền lãi được trả nửa năm một lần. Trong trường hợp này, n = (10 X 2) = 20 kỳ trả lãi.
    • Thay giá trị I, k và n vào công thức tính niên kim có giá trị hiện tại để tìm giá trị hiện tại của các khoản thanh toán lãi. Trong ví dụ này, giá trị hiện tại của số tiền lãi được trả là 30 USD[1-(1+0.025)^-20]/0,025 = 467,67 USD.
  3. 3
    Nhập giá trị các biến số và tính toán giá trị hiện tại của các khoản thanh toán chính. Giá trị hiện tại của các khoản thanh toán lãi là một niên kim, hoặc một loạt các khoản thanh toán. Tiền gốc là khoản hoàn trả một lần cho nhà đầu tư khi đáo hạn.[6]
    • Ví dụ: nếu bạn sở hữu trái phiếu trị giá 100.000 USD trong 10 năm (trái phiếu có mệnh giá là 1.000 USD, và giá trị của toàn bộ chu kỳ phát hành là 100.000 USD), bạn sẽ nhận được khoản thanh toán một lần là 100.000 USD vào 10 năm sau kể từ bây giờ. Bạn sử dụng một tỷ lệ chiết khấu để chiết khấu (giảm) khoản thanh toán này theo giá trị hiện tại.
    • Công thức này sẽ dùng một số giá trị giống như giá trị dùng trong công thức tính niên kim. Trước hết dùng công thức tính niên kim và sau đó áp dụng các biến số tương tự như công thức thanh toán vốn.
    • Thay k và n vào công thức giá trị hiện tại (PV). Sử dụng công thức để tính giá trị hiện tại của khoản vốn khi đáo hạn. Trong ví dụ này, PV = 1.000 USD/(1+0,025)^10 = 781,20 USD.
    • Cộng giá trị hiện tại của lãi suất với giá trị vốn hiện tại để tính giá trị trái phiếu hiện tại. Theo ví dụ trên, giá trị trái phiếu = (467,67 USD + 781,20 USD), được kết quả là 1.248,87 USD.
    • Nhà đầu tư nên dùng giá trị hiện tại để xác định có muốn đầu tư vào trái phiếu cụ thể nào đó hay không.

Thông tin Bài viết

Bài viết này có đồng tác giả là Michael R. Lewis. Michael R. Lewis là giám đốc điều hành, doanh nhân và cố vấn đầu tư đã nghỉ hưu tại Texas. Ông có hơn 40 năm kinh nghiệm trong Kinh doanh & Tài chính.

Chuyên mục: Tài chính và Kinh doanh

Ngôn ngữ khác:

English: Calculate Bond Value, Español: calcular el valor de un bono, Русский: вычислить стоимость облигации, Italiano: Calcolare il Valore di un'Obbligazione, Deutsch: Den Wert von Anleihen berechnen, Français: calculer la valeur d'une obligation, Bahasa Indonesia: Menghitung Nilai Obligasi

Trang này đã được đọc 14.713 lần.
Bài viết này đã giúp ích cho bạn?